Hướng tới thị trường lao động đa dạng

Thứ sáu, 29-03-2019 | 12:38 GMT+7

Làn sóng cách mạng công nghiệp 4.0 cũng như sự dịch chuyển lao động trong khu vực đang có những tác động tích cực tới thị trường lao động Việt Nam. Tuy nhiên, cả doanh nghiệp và người lao động trong nước đều chưa tự tin nhập cuộc.

Nhu cầu sử dụng lao động kỹ năng của các nước trong khu vực ASEAN tiếp tục tăng cao. Ảnh: NG.HẢI

Hững hờ với thời cuộc

Tại hội thảo “Một số định hướng tái cơ cấu kinh tế Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0” do Trung tâm và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (NCIF), Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức ngày 20-3 vừa qua, cùng với số liệu khảo sát được Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) Hà Nội đưa ra cho thấy, các DNVVN dường như vẫn còn chủ quan trước sự tác động của CMCN 4.0.

Cụ thể, có đến 67% DN cho biết CMCN 4.0 không thấy liên quan và ảnh hưởng nhiều đến DN, 56% cho rằng lĩnh vực hoạt động của mình không bị tác động nhiều; 76% cho rằng chưa hiểu rõ bản chất cuộc CMCN 4.0. Trong khi đó, có đến 54% khẳng định chưa có nhu cầu… Theo nhận định từ các chuyên gia, hiện nay mặc dù đã có nhiều DN nhận thức được lợi ích từ việc đổi mới, cải tiến công nghệ, nâng cao năng suất lao động (LĐ), đào tạo LĐ có trình độ, kỹ năng… Tuy nhiên, khi đối mặt với những khó khăn trong sản xuất, kinh doanh, các DN này lại chấp nhận mà không chịu tìm tòi hướng đi mới.

Không chỉ DN, người lao động (NLĐ) cũng thờ ơ nắm bắt cơ hội dịch chuyển LĐ trong khu vực trước xu hướng phát triển kinh tế toàn cầu hóa.

TS Vũ Thị Loan, Phó Chánh Văn phòng Tổng Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) Việt Nam, Chủ nhiệm đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước về “Dịch chuyển LĐ có tay nghề trong quá trình Việt Nam tham gia Cộng đồng nghiên cứu ASEAN” cho biết: Năm 2015, cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) hình thành nhằm tạo ra một thị trường chung duy nhất và cơ sở sản xuất thống nhất, trong đó có sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và LĐ có tay nghề. Việc tạo điều kiện tự do dịch chuyển LĐ có tay nghề giữa các quốc gia được đặc biệt quan tâm vì quy mô lực lượng LĐ của các quốc gia trong cộng đồng lên đến hơn 640 triệu người, Việt Nam không là ngoại lệ.

Trong giai đoạn 2010-2025, trong khu vực, nhu cầu đối với việc làm cần tay nghề trung bình nói chung sẽ tăng nhanh nhất, ở mức 28% và điều này sẽ mang lại thêm nhiều cơ hội cải thiện cuộc sống cho hàng triệu người. Đến nay, đã có tám thỏa thuận công nhận lẫn nhau trong tám lĩnh vực ngành nghề, gồm: Dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ điều dưỡng, dịch vụ kiến trúc, dịch vụ khảo sát, hành nghề y khoa, hành nghề nha khoa, dịch vụ kế toán và hành nghề du lịch. “Đây là cơ hội cho dịch chuyển LĐ có chất lượng từ nước ta đến các quốc gia khác, đồng thời cũng phải cạnh tranh quyết liệt trong tìm kiếm việc làm trong nước, khi luồng LĐ kỹ năng đến từ các quốc gia khác dịch chuyển đến Việt Nam”, TS Vũ Thị Loan - Chủ nhiệm đề tài cho biết.

Tuy nhiên, kết quả khảo sát của nhóm nghiên cứu về dự định thời gian tham gia làm việc tại AEC của sinh viên sau khi ra trường, cụ thể là trong vòng 3-5 năm tới, có 43,4% muốn dịch chuyển, và tỷ lệ mong muốn dịch chuyển trong hai năm tới chỉ là 30,8%. Kết quả khảo sát từ sinh viên - đội ngũ LĐ chính trong tương lai gần, nằm trong xu thế dịch chuyển LĐ là tất yếu - cho thấy, sinh viên Việt Nam còn thiếu tự tin, chưa sẵn sàng tham gia dịch chuyển trong thị trường AEC.

Những lý do, đồng thời cũng là rào cản được sinh viên đưa ra như: Sợ chuyên môn không được chấp nhận, chiếm 33,9%; chỉ muốn làm việc tại Việt Nam, chiếm 71,2%; chưa tìm hiểu kỹ và chưa biết nhiều về thị trường LĐ AEC, chiếm 71,1%... Còn NLĐ Việt Nam luôn lo lắng về sự phân biệt đối xử trong môi trường LĐ: 43,4%; rào cản, bất đồng về ngôn ngữ: 50,4%; tiêu chuẩn trong LĐ (yêu cầu thực hành chuẩn, tiêu chuẩn chất lượng, chứng chỉ hành nghề): 41,2%; rất khó cạnh tranh với LĐ có tay nghề tại nước bạn: 40,7%; và các khó khăn khác... Điều này đã ảnh hưởng đến quá trình dịch chuyển LĐ có kỹ năng của Việt Nam trong AEC.

Nhiều doanh nghiệp nhận thức được lợi ích từ việc đổi mới, cải tiến công nghệ, nâng cao năng suất lao động, đào tạo lao động có trình độ, kỹ năng. Ảnh: NAM ANH

Tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách về lao động

Phó Cục trưởng Phụ trách Cục Việc làm Lê Quang Trung (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) cho biết, với sự chuyển dịch tích cực của nền kinh tế, năm 2019 kinh tế Việt Nam được dự báo tiếp tục tăng trưởng cao. Thị trường LĐ sẽ có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm dần sử dụng LĐ giản đơn sang sử dụng nhóm LĐ có kỹ năng và trình độ cao, chất lượng LĐ được nâng cao. Kết quả điều tra nhu cầu sử dụng LĐ trong các loại hình DN năm 2018 cho thấy kế hoạch tuyển dụng năm 2019 của các DN tiếp tục có sự gia tăng, trong đó cao nhất là các DN có vốn đầu tư nước ngoài.

Trong bối cảnh hội nhập, nhu cầu sử dụng LĐ kỹ năng của các nước trong khu vực ASEAN tiếp tục tăng cao. Cụ thể, với xu thế tiếp tục thúc đẩy mở rộng thị trường và tăng cường hợp tác với Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), số LĐ Việt Nam đến các quốc gia này vẫn tiếp tục tăng dần qua các năm và đến năm 2020 có khoảng 92.000 LĐ Việt Nam làm việc tại Đài Loan; 94.000 LĐ Việt Nam làm việc tại Nhật Bản; số LĐ Việt Nam tới làm việc tại Hàn Quốc sẽ tăng nhẹ khoảng 5.000-6.000 LĐ mỗi năm trong giai đoạn từ 2018-2020. Bên cạnh đó, xu thế dịch chuyển LĐ nội khối ASEAN tăng lên, dự báo, tới đây số lượng LĐ Việt Nam sang làm việc tại Malaysia sẽ đạt khoảng 3.000 LĐ vào năm 2019, tăng lên 5.000 LĐ vào năm 2020 và kỳ vọng sẽ tăng lên 12.736 LĐ vào năm 2025.

Trước xu thế tích cực đó, thời gian tới, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sẽ thực hiện đồng bộ các giải pháp như tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách về lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội; mở rộng phạm vi bao phủ của các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, an toàn, vệ sinh lao động sang khu vực phi chính thức; gắn đào tạo với việc làm, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp; tạo bước đột phá trong giáo dục nghề nghiệp.

Bộ cũng tiếp tục hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường LĐ; nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống Trung tâm dịch vụ việc làm trong kết nối cung-cầu lao động; thực hiện hiệu quả các chương trình, chính sách hỗ trợ việc làm, nhất là đối với các đối tượng yếu thế...

Nhóm nghiên cứu đề tài cũng đưa ra khuyến nghị: Việt Nam phải thật sự coi đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là đầu tư cho phát triển, hội nhập và do vậy, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, dạy nghề có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh của LĐ và khả năng dịch chuyển LĐ kỹ năng của Việt Nam trong ASEAN. Trong đó, cần đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền và nâng cao nhận thức cho NLĐ về tham gia dịch chuyển LĐ kỹ năng của Việt Nam trong ASEAN, làm cho mọi người thấy rõ vai trò và trách nhiệm trong việc đào tạo và sử dụng nhân lực, biến thách thức về nhân lực (số lượng đông, tay nghề thấp, chưa có tác phong công nghiệp...) thành lợi thế chủ yếu thông qua đào tạo, thông qua giáo dục và khoa học công nghệ.

Từ góc độ của tổ chức đại diện, bảo vệ quyền lợi cho NLĐ, Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam Ngọ Duy Hiểu khẳng định, khi Việt Nam là thành viên của AEC, tổ chức Công đoàn cần quan tâm hơn và nghiên cứu, đề xuất các đề án, kế hoạch tham gia tuyên truyền, vận động và tổ chức các hoạt động đào tạo nghề, nâng cao kỹ năng và ngoại ngữ để NLĐ Việt Nam có thể chủ động, tích cực tham gia vào quá trình dịch chuyển LĐ.

Tổ chức Công đoàn cần nghiên cứu, đề xuất mô hình thu hút, tập hợp NLĐ có quốc tịch nước ngoài làm việc tại Việt Nam tham gia các hoạt động của Công đoàn Việt Nam; đồng thời có chính sách, giải pháp chăm lo, bảo vệ NLĐ Việt Nam đi làm việc tại các DN ở nước ngoài.

An Như

Theo Nhân dân