Thứ 6, ngày 16 tháng 8, 2019, 8:36:21 Chiều
Email: thanhnienthudo.vn@gmail.com
Hotline: 0912933222

Luật Phát triển đô thị cần có khả năng thích ứng với sự phát triển lâu dài của đất nước

Đại biểu Quốc hội, Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm (TP Hà Nội) đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ý kiến thẩm tra của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp, cũng như ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật Phát triển đô thị.

Qua nghiên cứu dự thảo Luật Phát triển đô thị, Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp và Báo cáo tiếp thu, giải trình của Chính phủ và các tài liệu đã gửi đến các vị đại biểu Quốc hội, Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm (TP Hà Nội) cơ bản thống nhất với sự cần thiết ban hành Luật. Đây là một dự án Luật có ý nghĩa quan trọng trong việc thể chế hóa chủ trương tiếp tục đổi mới mô hình quản trị đô thị, đẩy mạnh phân quyền, phân cấp, tạo dư địa cho các đô thị động lực phát huy tiềm năng, đồng thời hình thành khuôn khổ pháp lý ổn định để huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển. 

img-20260805-110901-1785903324.jpg
Đại biểu Quốc hội, Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm (TP Hà Nội).

Theo Đại biểu Quốc hội, tinh thần xuyên suốt cần được quán triệt trong toàn bộ dự thảo là càng phân quyền mạnh thì càng phải quy định rõ giới hạn của quyền lực; càng có cơ chế đặc thù thì càng phải có cơ chế kiểm soát tương xứng. Đây cũng là điều kiện để các chính sách mới có thể triển khai ổn định, minh bạch và tạo được sự đồng thuận trong thực tiễn.

Về phân quyền và cơ chế kiểm soát quyền lực, Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm (TP Hà Nội) hoàn toàn ủng hộ chủ trương đẩy mạnh phân quyền cho chính quyền đô thị (quy định tại Điều 3 dự thảo Luật). Thực tiễn cho thấy nhiều vấn đề của các đô thị lớn cần được quyết định nhanh, sát thực tiễn và gắn với trách nhiệm của chính quyền địa phương. Tuy nhiên, phân quyền chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi kèm với một cơ chế kiểm soát phù hợp.

Luật cần quy định rõ hơn cơ chế kiểm soát ở cả ba giai đoạn. Trước khi quyết định phải có đánh giá tác động đầy đủ đối với những chính sách ảnh hưởng lớn đến ngân sách, quyền tài sản hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp. Trong quá trình thực hiện cần có cơ chế theo dõi, giám sát và báo cáo định kỳ để kịp thời phát hiện những bất cập. Sau khi quyết định được ban hành cũng cần xác định rõ thẩm quyền kiểm tra, xử lý, đình chỉ hoặc yêu cầu sửa đổi khi phát hiện quyết định vượt quá phạm vi được giao hoặc không còn phù hợp với thực tiễn. Có như vậy, phân quyền mới gắn với trách nhiệm giải trình và bảo đảm nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong quản lý nhà nước.

Liên quan đến cơ chế thí điểm (Điều 8 dự thảo Luật), với chủ trương mở rộng không gian đổi mới sáng tạo cho các đô thị lớn, trong bối cảnh tốc độ phát triển nhanh và nhiều mô hình mới xuất hiện, việc cho phép thử nghiệm chính sách là cần thiết, nhưng cần phân định rõ giữa việc thí điểm đối với những vấn đề pháp luật chưa quy định với việc thí điểm khác với quy định của luật hoặc nghị quyết của Quốc hội. Hai trường hợp này có bản chất pháp lý hoàn toàn khác nhau. Đối với những nội dung tác động đến chính sách lớn hoặc khác với luật hiện hành thì thẩm quyền quyết định cần thuộc Quốc hội hoặc cơ quan được Quốc hội giao. Đồng thời, Luật cần quy định rõ tiêu chí lựa chọn nội dung thí điểm, thời hạn thực hiện, cơ chế đánh giá độc lập và phương án xử lý khi kết thúc thí điểm để bảo đảm tính minh bạch và ổn định của môi trường đầu tư, kinh doanh.

Một nội dung tiếp được quan tâm là nguyên tắc áp dụng pháp luật và thẩm quyền ban hành văn bản để thực hiện các cơ chế đặc thù (Điều 5, Điều 7 dự thảo Luật), cần có cơ chế ưu tiên áp dụng đối với những chính sách đặc thù đã được Quốc hội quyết định nhằm bảo đảm tính khả thi của Luật. Tuy nhiên, nguyên tắc này cần được giới hạn rõ trong phạm vi những cơ chế đặc thù mà Luật quy định, tránh tạo ra cách hiểu rằng địa phương có thể áp dụng khác với hệ thống pháp luật hiện hành trong mọi trường hợp. Một đạo luật trao quyền càng lớn thì càng cần xác định rõ ranh giới của quyền được trao để bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật và tính minh bạch trong tổ chức thực hiện.

Việc cho phép địa phương chủ động hơn trong cải cách thủ tục hành chính là rất cần thiết, nhưng nên tập trung vào việc đơn giản hóa quy trình, rút ngắn thời gian giải quyết và tăng cường ứng dụng công nghệ số. Những vấn đề liên quan đến thay đổi thẩm quyền đã được luật quy định hoặc tác động trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân cần được cân nhắc rất chặt chẽ. Mục tiêu của phân quyền là nâng cao hiệu quả quản trị chứ không phải tạo ra sự khác biệt trong việc áp dụng pháp luật giữa các địa phương.

Một nội dung khác có ý nghĩa rất quan trọng là quy hoạch tổng thể đô thị và phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (Điều 10 dự thảo Luật). Tư duy tích hợp quy hoạch trong dự thảo Luật vì đây là xu hướng quản trị hiện đại, góp phần khắc phục tình trạng quy hoạch phân tán và thiếu đồng bộ. Tuy nhiên, cùng với việc trao quyền chủ động cho địa phương, Luật cũng cần xác định rõ nguyên tắc phối hợp với quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng và các quy hoạch ngành để bảo đảm tính thống nhất và khả năng kết nối giữa các địa phương.

Từ thực tiễn phát triển thời gian qua, có thể thấy Hà Nội đã hình thành nhiều Khu đô thị mới, góp phần mở rộng không gian phát triển, giảm áp lực cho khu vực nội đô và tạo động lực tăng trưởng. Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cũng cho thấy phát triển đô thị chỉ bền vững khi quy hoạch đi trước một bước, hạ tầng giao thông, hạ tầng xã hội được đầu tư đồng bộ và năng lực quản trị đô thị được nâng lên tương xứng. Đây là những kinh nghiệm rất đáng tham khảo trong quá trình hoàn thiện Luật, để các cơ chế đặc thù không chỉ tạo điều kiện cho phát triển nhanh mà còn hướng tới phát triển đồng bộ, hiện đại và nâng cao chất lượng sống của người dân.

Đối với cơ chế phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng, việc khai thác hiệu quả giá trị gia tăng từ đất để tái đầu tư cho hệ thống hạ tầng. Tuy nhiên, cùng với cơ chế khai thác nguồn lực, Luật cũng cần quan tâm hơn đến việc công khai, minh bạch trong xác định giá trị đất, bảo đảm tái định cư, phục hồi sinh kế và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư với người dân. Phát triển đô thị hiện đại không chỉ được đo bằng những công trình mới hay tốc độ đô thị hóa mà còn bằng mức độ người dân được hưởng lợi từ quá trình phát triển đó.

Điểm rất đáng chú ý của dự thảo Luật là không chỉ giải quyết yêu cầu của hiện tại mà còn tạo nền tảng cho những mô hình phát triển mới trong tương lai. Thực tiễn hiện nay cho thấy nhiều địa phương đang nghiên cứu các mô hình như đô thị biển, đô thị lấn biển, khu kinh tế đặc biệt và các trung tâm đổi mới sáng tạo. Có thể lấy Phú Quốc là một ví dụ. Với lợi thế về vị trí địa lý, kinh tế biển và du lịch, Phú Quốc đang có điều kiện để phát triển thành một cực tăng trưởng mới nếu có khuôn khổ thể chế phù hợp.

Luật lần này cần mở ra không gian pháp lý để những mô hình như vậy có thể phát triển, nhưng đồng thời cũng phải xác lập ngay từ đầu những nguyên tắc về quy hoạch, bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững. Đây không phải là nội dung cụ thể của hồ sơ dự thảo, mà là một liên hệ thực tiễn cho thấy những cơ chế mà Luật đang thiết kế sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của đất nước trong những năm tới.

Một đạo luật đi trước một bước sẽ tạo dư địa cho đổi mới; nhưng một đạo luật đi trước nhiều bước thì càng cần được xây dựng trên những nguyên tắc rõ ràng, ổn định và có khả năng thích ứng với sự phát triển lâu dài của đất nước. Đó cũng là yêu cầu đặt ra đối với Luật Phát triển đô thị lần này.

Một nội dung nữa được Đại biểu Quốc hội, Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm (TP Hà Nội) trao đổi là quản lý, khai thác không gian ngầm, không gian tầm thấp và không gian tầm cao (Điều 11 dự thảo Luật). Đây là lĩnh vực mới, có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triển đô thị hiện đại, nhưng đồng thời cũng liên quan trực tiếp đến quyền sử dụng đất, quyền tài sản, quốc phòng, an ninh và an toàn công trình. Luật cần quy định rõ hơn những nguyên tắc nền tảng về phạm vi quyền khai thác, giới hạn của quyền sử dụng, cơ chế bồi thường khi quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng, cũng như nguyên tắc quản lý thống nhất đối với những khu vực liên quan đến quốc phòng, an ninh và hạ tầng kỹ thuật quốc gia. Những nội dung có tác động trực tiếp đến quyền tài sản của người dân cần được quy định ngay trong Luật, bảo đảm tính minh bạch và ổn định, thay vì giao phần lớn cho địa phương quy định.

Liên quan đến các biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn đô thị (Điều 16 dự thảo Luật), mục tiêu tăng cường hiệu lực quản lý đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng trong lĩnh vực xây dựng, môi trường và trật tự đô thị. Tuy nhiên, một số biện pháp như ngừng cung cấp điện, nước có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân và hoạt động sản xuất, kinh doanh nên cần được quy định thật chặt chẽ về điều kiện áp dụng, thẩm quyền quyết định, thời hạn thực hiện và cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân không có hành vi vi phạm. Quyền lực hành chính càng được mở rộng thì trách nhiệm giải trình và trách nhiệm pháp lý càng phải được quy định rõ để bảo đảm nguyên tắc Nhà nước pháp quyền. 

Đối với Khu thương mại tự do và các mô hình phát triển mới (Điều 20 dự thảo Luật), chủ trương xây dựng những cơ chế đủ sức cạnh tranh để thu hút đầu tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hình thành các cực tăng trưởng mới. Tuy nhiên, cơ chế đặc thù chỉ phát huy hiệu quả khi được đặt trong một khuôn khổ pháp lý minh bạch và thống nhất. Luật cần xác định rõ những nội dung thuộc thẩm quyền quyết định của địa phương và những nội dung phải được quản lý thống nhất ở cấp quốc gia, nhất là các lĩnh vực liên quan đến thuế, hải quan, ngoại hối, phòng, chống rửa tiền và thực hiện các cam kết quốc tế. Đồng thời, cần bổ sung cơ chế giám sát, đánh giá định kỳ để bảo đảm các chính sách ưu đãi thực sự tạo động lực phát triển, không làm phát sinh thất thu ngân sách hoặc tạo khoảng trống trong quản lý nhà nước.

Đại biểu Quốc hội này cũng đề nghị tiếp tục rà soát các quy định chuyển tiếp và điều kiện bảo đảm thi hành Luật. Đây là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng đối với tính ổn định của môi trường đầu tư và hoạt động quản lý nhà nước. Cần làm rõ hơn mối quan hệ giữa Luật này với các nghị quyết đặc thù đang được áp dụng, bảo đảm quá trình chuyển tiếp không làm gián đoạn các dự án đang triển khai, không làm thay đổi bất lợi quyền và lợi ích hợp pháp đã được xác lập của người dân và doanh nghiệp. Đồng thời, cần đánh giá đầy đủ hơn về nguồn lực thực hiện, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, hạ tầng số, cơ sở dữ liệu, nguồn lực tài chính và khả năng tổ chức thực thi. Một cơ chế dù được thiết kế tốt đến đâu cũng chỉ phát huy hiệu quả khi đi kèm với điều kiện thực hiện tương xứng.

Đại biểu Quốc hội, Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm (TP Hà Nội) ủng hộ chủ trương xây dựng một đạo luật tạo động lực phát triển mới cho Thành phố Hồ Chí Minh, các đô thị đặc biệt và các khu vực có vai trò động lực của đất nước. Tuy nhiên, giá trị lớn nhất của dự thảo Luật không chỉ nằm ở việc trao thêm thẩm quyền cho địa phương, mà còn ở khả năng thiết lập một cơ chế quản trị hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm. Phân quyền mạnh là cần thiết, nhưng phân quyền phải đi đôi với kiểm soát quyền lực; cơ chế đặc thù phải đi đôi với trách nhiệm giải trình; đổi mới phải luôn gắn với yêu cầu giữ vững tính thống nhất của hệ thống pháp luật và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp. Chỉ khi bảo đảm được sự cân bằng đó, Luật mới thực sự trở thành nền tảng pháp lý bền vững, vừa tạo động lực phát triển, vừa nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

PV