Tạp chí Phổ biến và Tham vấn pháp luật Việt Nam nhận được phản ánh của bạn đọc về việc trên địa bàn xã Nam Phù (TP Hà Nội) có nhiều bến bãi tập kết vật liệu xây dựng có dấu hiệu hoạt động trái quy định pháp luật.
Theo phản ánh, trên địa bàn xã Nam Phù có bãi tập kết VLXD của ông Phùng nằm sát bến đò Vạn, xã Nam Phù (trước thuộc thôn Đại Lộ, xã Ninh Sở, huyện Thường Tín, TP Hà Nội cũ) và Bãi tập kết VLXD tại thôn 2, xã Nam Phù (cách Công an xã Nam Phù khoảng 500m).
Các bến bãi tập kết vật liệu xây dựng nói trên đều có dấu hiệu hoạt động không phép, sử dụng đất sai mục đích, tiềm ẩn nguy cơ gây hại môi trường, vi phạm Luật Đất đai 2024, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Thủ đô. Theo đó, bạn đọc đặt câu hỏi về tính hợp pháp trong kinh doanh vật liệu xây dựng, buôn bán, khai thác tài nguyên khoáng sản.
Xe tải vào vận chuyển vật liệu xây dựng (cát, sỏi) có dấu hiệu quá khổ, quá tải, rơi vãi làm mất an toàn giao thông, làm hỏng đường, ô nhiễm môi trường. Đặc biệt bãi tập kết VLXD của gia đình ông Phùng sát bến đò Vạn có dấu hiệu vi phạm Luật đê điều.
Vừa qua, UBND TP Hà Nội có Công văn số 6275/UBND-ĐT ngày 26/11/2025 về tăng cường quản lý hoạt động tập kết, kinh doanh vật liệu xây dựng trên địa bàn Hà Nội. Trong đó UBND TP Hà Nội giao Công an TP Hà Nội phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu UBND TP Hà Nội triển khai các biện pháp, giải pháp phòng ngừa, giải quyết triệt để các địa điểm tập kết, kinh doanh vật liệu xây dựng, tài nguyên khoáng sản trái phép, có dấu hiệu vi phạm về đất đai. Tuy nhiên hiện nay các bến bãi vật liệu xây dựng nói trên vẫn hoạt động rầm rộ mà không thấy xử lý.
Căn cứ vào nội dung phản ánh của bạn đọc, Căn cứ theo các quy định của Luật Báo chí số 103/2016/QH13 ngày 5/4/2016 và Nghị định số 09/2017/NĐCP ngày 9/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết về việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính Nhà nước; Căn cứ Luật Tố cáo, khiếu nại; Thông tư số 05/2021/TT-TTCP ngày 1/10/2021 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh, ngày 5/1, Tạp chí Phổ biến và Tham vấn pháp luật Việt Nam đã gửi công văn số 287/2026/CV-PBTVPL chuyển nội dung thông tin phản ánh của bạn đọc (kèm hình ảnh) đến Ủy ban nhân dân xã Nam Phù và Công an xã Nam Phù để xem xét và giải quyết thẩm quyền và thông tin kết quả tới Tạp chí để trả lời bạn đọc.
Tuy nhiên đến nay, Tạp chí vẫn chưa nhận được bất kỳ thông tin phản hồi nào từ Ủy ban nhân dân xã Nam Phù và Công an xã Nam Phù.
Vậy Tạp chí Phổ biến và Tham vấn Pháp luật Việt Nam xin phản hồi thông tin như trên để bạn đọc được biết.
Điều 2 Luật Thủy lợi 2017:
3. Công trình thủy lợi là công trình hạ tầng kỹ thuật thủy lợi bao gồm đập, hồ chứa nước, cống, trạm bơm, hệ thống dẫn, chuyển nước, kè, bờ bao thủy lợi và công trình khác phục vụ quản lý, khai thác thủy lợi.
4. Thủy lợi nội đồng là công trình kênh, mương, rạch, đường ống dẫn nước tưới, tiêu nước trong phạm vi từ điểm giao nhận sản phẩm, dịch vụ thủy lợi đến khu đất canh tác.
6. Hệ thống dẫn, chuyển nước bao gồm kênh, mương, rạch, đường ống, xi phông, tuynel, cầu máng dùng để dẫn, chuyển nước."
Điều 24 Nghị định 03/2022/NĐ-CP:
7. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
b) Xây dựng nhà ở, cầu, kè, nơi sản xuất và các công trình kiên cố khác không có giấy phép hoạt động trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
Nghị định 123/2024/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Điều 8. Sử dụng đất trồng lúa sang loại đất khác mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép
1. Hành vi chuyển đất trồng lúa sang loại đất khác trong nhóm đất nông nghiệp thì hình thức và mức xử phạt như sau:
a) Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với diện tích đất dưới 0,5 héc ta;
b) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,5 héc ta đến dưới 1 héc ta;
c) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 1 héc ta đến dưới 3 héc ta;
d) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 3 héc ta trở lên.
2. Hành vi chuyển đất trồng lúa sang đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) thuộc địa giới hành chính của xã thì hình thức và mức xử phạt như sau:
a) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với diện tích đất dưới 0,05 héc ta;
b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta;
c) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,1 héc ta đến dưới 0,5 héc ta;
d) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,5 héc ta đến dưới 1 héc ta;
đ) Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 1 héc ta đến dưới 2 héc ta;
e) Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với diện tích đất từ trên 2 héc ta trở lên.
3. Hành vi chuyển đất trồng lúa sang đất ở thuộc địa giới hành chính của xã thì hình thức và mức phạt như sau:
a) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với diện tích đất từ dưới 0,01 héc ta;
b) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,01 héc ta đến dưới 0,03 héc ta;
c) Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,03 héc ta đến dưới 0,05 héc ta;
d) Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta;
đ) Phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,1 héc ta trở lên.
4. Hành vi chuyển đất trồng lúa sang đất phi nông nghiệp thuộc địa giới hành chính của phường, thị trấn thì hình thức và mức xử phạt bằng 2 lần mức phạt tương ứng với quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai;
b) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.
Điều 10. Sử dụng đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, không phải là đất lâm nghiệp sang đất phi nông nghiệp mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép
1. Hành vi chuyển đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, không phải là đất lâm nghiệp sang đất phi nông nghiệp (không phải đất ở) thuộc địa giới hành chính của xã thì hình thức và mức xử phạt như sau:
a) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với diện tích đất dưới 0,05 héc ta;
b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta;
c) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,1 héc ta đến dưới 0,5 héc ta;
d) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,5 héc ta đến dưới 1 héc ta;
đ) Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 1 héc ta đến dưới 2 héc ta;
e) Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 2 héc ta trở lên.
2. Hành vi chuyển đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, không phải là đất lâm nghiệp sang đất ở thuộc địa giới hành chính của xã thì hình thức và mức xử phạt như sau:
a) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với diện tích đất từ dưới 0,01 héc ta;
b) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,01 héc ta đến dưới 0,03 héc ta;
c) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,03 héc ta đến dưới 0,05 héc ta;
d) Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta;
đ) Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,1 héc ta trở lên.
3. Hành vi chuyển đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, không phải là đất lâm nghiệp sang đất phi nông nghiệp thuộc địa giới hành chính của phường, thị trấn thì mức xử phạt bằng 2 lần mức phạt tương ứng với quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai;
b) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.
Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017
Điều 228. Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai
1. Người nào lấn chiếm đất, chuyển quyền sử dụng đất hoặc sử dụng đất trái với các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 2 năm đến 7 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 2 lần trở lên;
c) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.