Ciera Kirkpatrick luôn mong muốn được làm mẹ. Nhưng cô lại rất kỹ tính về thời điểm sinh con. “Tôi luôn có suy nghĩ rằng mình sẽ làm mọi thứ theo đúng trình tự”, cô chia sẻ với tôi. “Tôi muốn đạt được một số điều nhất định để có thể lo cho con cái.”
Điều mà cô muốn đạt được là một tấm bằng tiến sĩ. Việc canh thời điểm hợp lý giữa sự nghiệp học thuật và con cái vốn nổi tiếng là khó khăn, nên Kirkpatrick quyết định làm cả hai việc cùng lúc. Cô biết như vậy sẽ rất căng thẳng, nhưng cô tin rằng mình đủ sức xoay xở. Khi mang thai, cô bắt đầu theo dõi các bà mẹ khác trên mạng xã hội – các bà mẹ có ảnh hưởng – và nghe podcast. Là một học sinh ưu tú từ nhỏ, cô quyết tâm làm mọi thứ thật đúng cách để mang đến cho đứa con trai sắp chào đời của mình một cuộc sống tốt nhất có thể. Năm 2020, Kirkpatrick sinh con và trở thành thành viên trong một cộng đồng khi đó đang hoạt động rất sôi nổi: Theo khảo sát của Edison Research, năm 2020, có đến 87% các bà mẹ ở Mỹ sử dụng mạng xã hội. Đến năm 2023, con số này nhảy vọt lên 93%, trong khi xét chung trong tổng dân số, người sử dụng mạng xã hội thấp hơn tương đối, chiếm 70%.
Trước khi sinh con, cô tập trung tìm kiếm những nội dung liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ, “tầm quan trọng và lợi ích, hành trình tuyệt vời mà bạn và bé sẽ trải qua cùng nhau”, cô kể lại. Thông điệp từ tất cả những phương tiện truyền thông này rất rõ ràng: Chuyện nuôi con cũng có cách nuôi đúng và cách nuôi sai.
Con trai cô chào đời vào tháng Năm năm 2020, thời kỳ đỉnh điểm của đại dịch. Sau khi đưa con về nhà, Kirkpatrick và chồng nhận thấy bé thở khó, nên bú mẹ rất vất vả. “Tôi cảm thấy mình đã chuẩn bị sẵn sàng hết mức có thể”, cô nói. “Nhưng rồi bạn bắt đầu nhận ra rằng mọi thứ không diễn ra như kế hoạch. Những cách mà bạn cho là sẽ dỗ được con mình hay đảm bảo con được ăn no lại không hiệu quả.”
Chưa đầy hai mươi tư giờ sau khi về nhà, cô lại phải đưa con đến chỗ bác sĩ nhi khoa, rồi kết quả là gọi xe cấp cứu đưa bé trở lại bệnh viện vì bé sụt cân quá mức. Sau khi bé ở thêm năm ngày và trải qua vô số xét nghiệm, các bác sĩ xác định bé bị mất nước nghiêm trọng. “Chúng tôi đã cố gắng cho con bú sữa mẹ thật nhiều, nhưng lúc ấy bé đói bụng và không thể nhận được dinh dưỡng cần thiết theo cách đó”, Kirkpatrick nói. “Bé đã suýt chết. Bạn chịu áp lực phải làm mọi việc theo cách đúng đắn, nhưng cách đúng đắn chưa chắc đã đúng với bạn và con của bạn. Khi xử lý vai trò làm mẹ mà bạn mới đảm nhận, rất nhiều việc phải dựa vào kinh nghiệm của chính bạn.”
Đối với Kirkpatrick, hiện là giảng viên chuyên ngành quảng cáo và quan hệ công chúng tại Đại học Nebraska-Lincoln, đồng thời nghiên cứu về cách các thông điệp truyền thông ảnh hưởng đến sức khỏe cá nhân, trải nghiệm đó là một hồi chuông cảnh tỉnh về mức độ ảnh hưởng sâu rộng của mạng xã hội đến những quyết định của cô với tư cách một người mẹ. Điều này đã trở thành trọng tâm trong luận án Tiến sĩ và các nghiên cứu tiếp theo của cô. Trong một nghiên cứu năm 2022, cô đã cho 464 bà mẹ lần đầu nuôi con nhỏ (từ ba tuổi trở xuống) xem 20 bài đăng trên Instagram từ hai nhóm mà cô gọi là nhóm “các bà mẹ có ảnh hưởng” và nhóm “các bà mẹ bình thường”. Một nửa số bài đăng thể hiện hình ảnh lý tưởng hóa về việc làm mẹ, với những người mẹ trang điểm kỹ lưỡng, những đứa trẻ cười tươi rạng rỡ, và những ngôi nhà sạch bóng. Nửa còn lại là những hình ảnh chân thực hơn. Kết quả là, những người xem các bài đăng lý tưởng hóa – dù là do nhóm “các bà mẹ có ảnh hưởng” hay nhóm “các bà mẹ bình thường” tạo ra – đều cảm thấy lo lắng và ghen tị nhiều hơn.
Nghiên cứu khác chỉ ra rằng, mặc dù các bà mẹ nhận thức được rằng khi tìm kiếm thông tin sức khỏe, họ chỉ tin tưởng vào các website đáng tin cậy, nhưng họ lại không nghiêm khắc như vậy khi tiếp cận thông tin trên mạng xã hội. Có thể là vì nội dung trong các nhóm Facebook, blog, và nhóm trao đổi qua email được viết bởi những người mà các bà mẹ coi là “giống như mình, nên các bà mẹ trong nghiên cứu của chúng tôi cho rằng các thông tin và ý kiến được thể hiện trên mạng xã hội là đáng tin cậy, có lẽ còn đáng tin cậy hơn cả các chuyên gia y tế”, các nhà nghiên cứu cho biết.
Jessica Grose, cây bút bình luận của báo New York Times và tác giả của cuốn Screaming on the Inside (Tiếng hét bên trong), nói với tôi rằng sự thôi thúc và xu hướng tin tưởng vào các bà mẹ trên mạng xã hội này là điều dễ hiểu. Vì trước hết, chỉ riêng việc thiếu ngủ thôi cũng đủ khiến bất kỳ ai giảm đi khả năng ra quyết định và phân biệt giữa sự thật với thông tin bịa đặt. “Trong các giáo phái thực tế, họ không cho bạn ngủ để bạn dễ bị thao túng hơn”, Grose chỉ ra. Một yếu tố khác là sự cô lập xã hội mà cao trào là thời kỳ đại dịch, nhưng bây giờ vẫn có thể là khó khăn đối với các bà mẹ có con nhỏ, những người phải sống xa gia đình, bạn bè, hoặc không có ai thực sự đáng tin tưởng để hỏi ý kiến trong việc nuôi dạy con.