Qua nghiên cứu Tờ trình của Chính phủ, dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Văn hóa và Xã hội, Đại biểu Quốc hội, Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm (TP Hà Nội) cơ bản thống nhất với sự cần thiết ban hành Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi). Việc sửa đổi Luật lần này có ý nghĩa rất quan trọng nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương của Đảng về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền địa phương hai cấp, phát huy dân chủ ở cơ sở, đồng thời khắc phục những hạn chế, bất cập phát sinh sau hơn mười năm triển khai thi hành Luật hiện hành. Dự thảo Luật đã có nhiều điểm mới theo hướng hoàn thiện cơ chế tổ chức, nâng cao chất lượng đội ngũ hòa giải viên, bổ sung các quy định về chuyển đổi số, hòa giải trực tuyến và xác định rõ hơn trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong công tác hòa giải ở cơ sở. Trên tinh thần đó, Đại biểu Quốc hội, Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm (TP Hà Nội) xin tham gia một số ý kiến như sau:
Trước hết, về phạm vi điều chỉnh của Luật quy định tại Điều 1, theo Đại biểu Quốc hội này, dự thảo tiếp tục quy định đầy đủ về nguyên tắc, chính sách của Nhà nước đối với công tác hòa giải ở cơ sở; hòa giải viên, tổ hòa giải, người được mời tham gia hòa giải; hoạt động hòa giải và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan. Đồng thời, dự thảo vẫn giữ nguyên nguyên tắc không điều chỉnh đối với hoạt động hòa giải của Tòa án, trọng tài, hòa giải thương mại, hòa giải lao động và các hoạt động hòa giải đã được luật chuyên ngành điều chỉnh. Cách quy định này bảo đảm sự phân định rõ ràng giữa các cơ chế giải quyết tranh chấp, tránh chồng chéo trong áp dụng pháp luật. Tuy nhiên, Đại biểu Quốc hội này đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát để bảo đảm tính thống nhất với các luật có liên quan như Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Giao dịch điện tử, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở và các văn bản pháp luật có liên quan nhằm bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật.
Về kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở quy định tại Điều 6, Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm (TP Hà Nội) cơ bản đồng tình với việc sửa đổi theo hướng Nhà nước bảo đảm kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở thay vì chỉ hỗ trợ như quy định hiện hành. Trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp và yêu cầu ngày càng cao đối với chất lượng hoạt động hòa giải, việc bảo đảm nguồn lực tài chính ổn định là điều kiện quan trọng để các tổ hòa giải hoạt động thực chất, hiệu quả và bền vững. Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm (TP Hà Nội) thống nhất với quy định tiếp tục duy trì cơ chế ngân sách trung ương hỗ trợ các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách, đồng thời khuyến khích huy động các nguồn lực hợp pháp từ xã hội để đa dạng hóa nguồn lực cho công tác hòa giải. Tuy nhiên, Đại biểu Quốc hội này đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu theo hướng cần quy định cụ thể trong văn bản hướng dẫn thi hành Luật về cơ chế tiếp nhận, quản lý và sử dụng nguồn kinh phí xã hội hóa, bảo đảm công khai, minh bạch, đúng mục đích và có cơ chế kiểm tra, giám sát phù hợp để tránh phát sinh tiêu cực hoặc gây khó khăn trong quá trình thực hiện. Bên cạnh đó, cần quan tâm hơn đến việc bố trí nguồn lực đầu tư hạ tầng số, trang thiết bị và đào tạo kỹ năng số cho hòa giải viên, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số để bảo đảm tính khả thi đối với các quy định mới về hòa giải trực tuyến.
Đối với quy định về chỉ định hòa giải viên tại Điều 9, Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm (TP Hà Nội) đánh giá cao việc dự thảo Luật bổ sung cơ chế này. Thực tiễn thời gian qua cho thấy, sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, sáp nhập thôn, tổ dân phố hoặc tại những địa bàn có quy mô dân cư nhỏ, việc tổ chức bầu hòa giải viên nhiều khi không đáp ứng điều kiện theo quy định, dẫn đến khó bảo đảm đủ số lượng và cơ cấu hòa giải viên để duy trì hoạt động của tổ hòa giải. Vì vậy, việc bổ sung cơ chế chỉ định trong những trường hợp thật sự cần thiết là phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm (TP Hà Nội) thống nhất với quy định chỉ áp dụng chỉ định khi đã tổ chức bầu bổ sung nhưng vẫn chưa đủ số lượng, đã tổ chức bầu lại nhưng không đạt kết quả hoặc không thể tổ chức bầu do sự kiện bất khả kháng; đồng thời người được chỉ định vẫn phải đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn của hòa giải viên và hoàn toàn tự nguyện tham gia. Quy định như vậy vừa bảo đảm tính linh hoạt trong tổ chức thực hiện, vừa không làm giảm tính dân chủ của chế định hòa giải viên. Bên cạnh đó, ý kiến của cơ quan thẩm tra về việc cần bổ sung quy định xử lý trường hợp số người đạt kết quả bầu nhiều hơn số lượng cần công nhận thì việc công nhận được thực hiện theo thứ tự kết quả bầu từ cao xuống thấp để bảo đảm khách quan, minh bạch và kế thừa quy định của Luật hiện hành.
Về quyền và nghĩa vụ của hòa giải viên cũng như quyền của người được mời tham gia hòa giải ở cơ sở quy định tại các Điều 11, 12, 18 và 19, Đại biểu Quốc hội này cơ bản thống nhất với các nội dung của dự thảo Luật. Việc bổ sung quyền của hòa giải viên được đào tạo, bồi dưỡng, được hưởng thù lao, được hỗ trợ khi gặp rủi ro trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, được đề nghị lực lượng Công an cấp xã hỗ trợ bảo đảm an ninh, trật tự trong những vụ việc có nguy cơ phát sinh bạo lực và được hỗ trợ ứng dụng công nghệ thông tin là những quy định cần thiết, phù hợp với yêu cầu thực tiễn hiện nay. Đây không chỉ là sự ghi nhận vai trò của đội ngũ hòa giải viên mà còn góp phần tạo động lực để họ yên tâm gắn bó với công tác hòa giải ở cơ sở. Việc mở rộng thành phần người được mời tham gia hòa giải, bao gồm già làng, trưởng bản, chức sắc tôn giáo, người có uy tín trong cộng đồng, luật sư, luật gia và những người có chuyên môn phù hợp. Đây là nguồn lực xã hội rất quan trọng giúp nâng cao chất lượng các vụ việc hòa giải, đặc biệt đối với các vụ việc phức tạp hoặc liên quan đến phong tục, tập quán, tín ngưỡng. Để thu hút được đội ngũ có trình độ chuyên môn, nhất là luật sư và luật gia tham gia hỗ trợ hoạt động hòa giải, đề nghị nghiên cứu bổ sung cơ chế thù lao tương xứng đối với người được mời tham gia hòa giải, cả trong trường hợp tư vấn, hỗ trợ cho hòa giải viên cũng như trường hợp trực tiếp tham gia hòa giải.
Về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong công tác hòa giải ở cơ sở quy định tại Chương IV của dự thảo Luật, Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm (TP Hà Nội) cơ bản thống nhất với việc phân định trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chính quyền địa phương các cấp, đồng tình với ý kiến của cơ quan thẩm tra cho rằng cần nghiên cứu lại quy định giao từng địa phương biên soạn tài liệu hòa giải ở cơ sở. Nếu mỗi tỉnh, thành phố đều tự xây dựng tài liệu riêng sẽ dễ dẫn đến thiếu thống nhất về nội dung, phát sinh chi phí, nhân lực và thời gian. Theo Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm (TP Hà Nội), nên giao cơ quan quản lý Nhà nước về hòa giải ở cơ sở ở Trung ương chủ trì biên soạn bộ tài liệu chuẩn thống nhất trên phạm vi cả nước; trên cơ sở đó, các địa phương có thể bổ sung những nội dung mang tính đặc thù để phù hợp với điều kiện thực tiễn của mình. Đồng thời, cần đẩy mạnh việc xây dựng tài liệu điện tử, nền tảng dùng chung phục vụ hòa giải trực tuyến và chia sẻ dữ liệu, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước cũng như hỗ trợ tốt hơn cho hoạt động của các hòa giải viên.
Bên cạnh những nội dung cụ thể của dự thảo Luật, Đại biểu Quốc hội này cho rằng điều quan trọng hơn cả là cần nhìn nhận đầy đủ ý nghĩa của chế định hòa giải ở cơ sở. Hòa giải không chỉ là phương thức giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp mà còn là cầu nối gìn giữ tình làng, nghĩa xóm, củng cố sự đồng thuận xã hội và phát huy truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam. Dự thảo Luật tiếp tục khẳng định các nguyên tắc tôn trọng sự tự nguyện của các bên; khách quan, công bằng, kịp thời; tuân thủ pháp luật gắn với đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp; phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ trong gia đình, dòng họ và cộng đồng dân cư, đồng thời thể hiện rõ chính sách của Nhà nước trong việc tạo điều kiện, bảo đảm nguồn lực và từng bước ứng dụng chuyển đổi số vào công tác hòa giải ở cơ sở. Những quy định này không chỉ góp phần giải quyết kịp thời các mâu thuẫn ngay từ cơ sở mà còn hướng tới mục tiêu lớn hơn là xây dựng gia đình hòa thuận, cộng đồng đoàn kết, xã hội đồng thuận, qua đó củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc - nền tảng quan trọng cho sự ổn định chính trị, phát triển bền vững của đất nước.